• The Facebook Platform

DIỄN ĐÀN DIỀU SÁO VIỆT NAM

Với tuổi thơ, cái ban đầu của diều là mơ ước, những mơ ước hướng lên bầu trời với gió phóng khoáng, thứ gió khác cái gió luẩn quẩn, nhỏ mọn, chật hẹp. Bài học đầu tiên của diều là gió và mơ ước...


Hiện kết quả từ 1 tới 1 của 1
  1. #1
    Người chơi mới
    Tham gia ngày
    Jun 2016
    Đến từ
    Thái Bình
    Bài gửi
    31
    Cảm ơn
    33
    Được cảm ơn 19 lần trong 9 bài viết

    Những làng "vít gió trời"

    Kỳ 1: Diều sáo thành Thánh

    Ở nước ta, thú vui đua diều thì làng nào cũng có. Nhưng, để cái thú trở thành một tục lệ đi vào hương ước thì hiếm lắm. Cũng bởi hiếm nên cái sự chơi càng phải công phu, độc đáo. Cho đến bây giờ, những làng còn giữ được tục lệ “vít gió trời” không nhiều nữa, nhưng lại đậm đặc bản sắc hơn.


    Tục lệ thi diều ở Song An đã có từ hơn 500 năm trước.

    Tổng An Lão xưa, nay là xã Song An (Vũ Thư – Thái Bình) có một ngôi đền cổ kính mang tên Sáo Đền. Đây được coi là cái nôi văn hóa với tục lệ đua diều trứ danh của đất Bắc. Người Song An không chỉ coi việc đua diều là tục lệ mà nâng thành hàng tín ngưỡng.

    Tích xưa kể lại
    Cụ Bùi Tiến Giác, nghệ nhân diều sáo Song An dẫn chúng tôi tới Đền Sáo nay tọa lạc tại thôn Quý Sơn và hướng dẫn rằng, ngày trước đây là tổng An Lão thuộc huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam. Sáo Đền gồm đền Mẫu thờ Quốc Thái phu nhân Đinh Thị Ngọc Kế và Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao người có công làm rạng rỡ ba đời vua Lê.


    Người dân nô nức đem diều sáo rước đến đền Sáo Đền.

    Ngoài ra còn đền “Tam quốc công” được xây ngay bên cạnh, thờ 3 anh em Đinh Lễ, Đinh Bồ và Đinh Liệt là người có công lớn trong việc lập nhà Lê. Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Giao là cháu ngoại Quốc công Đinh Lễ, bà là vợ vua Lê Thái Tông và là mẹ của vua Thánh Tông.

    “Sở dĩ đền thờ được xây dựng là vào năm 1471, vì vua Lê Thánh Tông với lòng hiếu nghĩa đã cho xây dựng một điện thờ trên đất tổng An Lão để sớm tối Thái hậu tụng kinh niệm Phật và cầu đảo. Cứ đến ngày giỗ Quốc mẫu hay ngày giỗ của Tam quốc công, con cháu Đinh Lễ thường cho thả sáo diều tưởng nhớ đến ngày xưa khi quân binh thả diều để quên đi mệt nhọc sau trận mạc”, cụ Giác cho biết.

    Theo tìm hiểu của chúng tôi, Sáo Đền được Nhà nước xếp hạng di tích từ năm 1983. Sau 500 năm tồn tại trên đất Song An, nay đền Mẫu chỉ còn lại cung cấm và cung trong là nơi thờ tự cúng bái hàng năm. Cung ngoài và hai nhà tài xá đã biến cải nhiều. Sân đền, hai cung tướng, gác chuông xưa, giờ không còn lại dấu vết gì. Khu đền Tam quốc công cũng chỉ còn hậu cung và tấm bia đá khắc ghi sơ bộ công đức của ba anh em họ Đinh.

    Nghề làm diều trứ danh
    Ở Song An, khách qua đường luôn phải nán lại ít phút thảnh thơi cùng sáo diều. Trên bầu trời Song An, những cánh diều đủ mọi kích cỡ màu sắc “vít gió trời” ở những tầng cao thấp. Tiếng sáo vi vu đưa đẩy càng làm cho cái không khí thanh bình vùng chiêm trũng thêm yên ả.


    Thi diều ở Song An trở thành một nét văn hóa độc đáo.

    Ở làng đua diều cổ kính này, từ người già đến trẻ nhỏ đều đam mê thả diều, họ thả diều quanh năm và đã từng tham dự nhiều cuộc thi thả diều lớn được tổ chức trong toàn quốc. Tuy nhiên theo các nghệ nhân nơi đây thì vào mùa xuân và mùa hè là lúc phong trào thả diều lên cao nhất, bởi lúc này mùa nông vụ đã xong, hơn nữa cũng là khi gió đẹp kéo về nên thích hợp với thả diều.

    Theo kinh nghiệm, không phải cứ có gió là thả được diều mà phải nghe ngóng xem nếu đó là gió xoáy hay gió hiền hòa. Nếu gió xoáy thì phải tuyệt đối tránh, vì như vậy không những diều không thể lên mà còn làm đứt dây diều. “Diều đứt dây thì tiếc lắm. Nó vừa là điềm xui, lại gây tốn kém. Mỗi cái diều chất lượng cũng có giá tiền triệu chứ ít gì”, cụ Giác thủ thỉ.

    Thì ra ở Song An, đua diều không chỉ là cái thú mà còn trở thành một nghề. Ngoài thú chọi diều, thi diều cao thấp thì nghề hình thành từ xa xưa chính là sản xuất diều và làm sáo. Nó là một nghề thủ công liên quan đến cây tre giống như nghề làm thuyền nan hay rổ rá vậy.

    “Ở quê tôi, hầu như ai cũng biết làm diều và làm sáo. Vấn đề là người ấy có giỏi hay không. Người giỏi nghề làm ra chiếc diều đẹp, nhẹ và bay cao; làm ra cái sáo có âm thanh trầm bổng, thanh thót. Và, nhiều người nhờ nghề làm diều mà nuôi sống cả gia đình”, cụ Giác cho hay.

    Theo kinh nghiệm của cụ Giác và các nghệ nhân Song An, để có những cánh diều tốt, người chơi phải chọn những cây tre 10 năm tuổi, phơi liền ba tháng cho kiệt nước, nếu cong thì phải đốt lửa uốn cho thẳng, cung trên phải to hơn cung dưới. Sáo diều làm bằng ống nứa và nếu đã chơi sáo diều, vui nhất là tự tay mình làm chứ đi mua thì không còn gì thú vị nữa.


    Những bộ sáo diều khổng lồ.

    Ống sáo được gắn với mắt sáo tròn bầu khoét khe ở giữa. Gió sẽ luồn vào khe và phát ra tiếng khi diều chao lượn trên cao. Mắt sáo thường làm bằng gỗ mít, mắt gạo nhẹ và bền. Tùy theo kích thước của diều mà gắn sáo nào vào cho phù hợp. Có chiếc diều khung rộng tới 5m thì sẽ được gắn ống sáo to hơn cái phích, dài hàng mét.

    Vào nhà nào chúng tôi cũng bắt gặp những chiếc diều treo trên tường. Có những gia đình, thay vì khung cảnh, bằng khen thì toàn treo diều. Diều đủ mọi kích cỡ, màu sắc, hình dáng. Và trong tủ kính hay trên sập gụ là những bộ sáo đủ loại. Có bộ sáo chỉ 3 chiếc nhỏ, nhưng có bộ lên tới 9 ống lớn.

    Nhà anh Trần Bá Sâm hiện nay có tới 20 bộ sáo. Anh bảo, bộ rẻ nhất có giá gần 1 triệu, bộ đắt nhất có người đến trả 30 triệu mà chưa bán. “Nghề chơi diều không đơn thuần chỉ là chơi đâu ạ. Chơi mà ra tiền mới là chơi. Ở đây, không ai không biết chơi diều, và chẳng ai không biết làm sáo”, anh Sâm tiết lộ.

    Hồn làng ngày “vít gió”
    Ông Nguyễn Văn Ba, Trưởng ban Văn hóa xã Song An cho biết: Nét văn hóa đặc sắc không thể thiếu trong lễ hội Sáo Đền chính là diều sáo, đó chính là hồn làng. Diều thi ở Sáo Đền phải là diều đại, có chiều dài từ 9 thước trở lên. Có những diều dài tới 30 thước, sáo đan gắn sơn phải 2 người khiêng.


    Diều thờ ở Đền Sáo.

    Diều thì có các loại cánh doi, cánh bầu, cánh cốc hay còn gọi là cánh tiên, hình dáng cầu kỳ, đa dạng. Nhưng có nhiều và đông hơn cả là diều cánh doi, vừa dân dã mà lại có thể cõng được các bộ sáo lớn và vẫn đứng thẳng ở chiều dài 2000m.

    Để làm được một chiếc diều tốt, người thợ Song An thường chọn loại tre hóp đực, già cây, nằm ở giữa bụi, thẳng gióng dầy cật. Đặc biệt cây tre có đặc điểm rụng lá vào khoảng tháng 3, trùng với dịp hội Sáo, khi đó thân tre sẽ khô, dẻo thuận tiện cho việc sử dụng.

    Trước khi lên khung, diều tre phải được sơ chế qua nước vôi hoặc nước muối đun kỹ trong một thời gian để chống mối mọt. Giấy phất diều phải là loại giấy nhẹ, dai mà lại không thấm nước. Ngày trước, các cụ thường dùng giấy dó, hay còn gọi là giấy bản. Đặc biệt khâu sơn diều được nghệ nhân lấy quả cậy hay quả hồng xiêm non giã nát, pha nước quết lên diều khoảng 3 lần. Diều khi được quét lớp sơn này, lên cao gặp gió to không bị rách, lỡ có rơi xuống nước cũng không bị ướt.

    “Sáo diều rất đa dạng. Có loại làm bằng tre, bằng gỗ; có loại làm bằng kim loại chủ yếu là chất liệu đồng. Sáo thường được làm theo bộ, với các bậc âm thanh: kồng, còi, go, ghí, gộ. Mỗi loại là một tên gọi khác nhau như sáo bi là sáo đơn có 1 ống; sáo kép gọi là sáo chị em; sáo 3 ống là sáo con khóc mẹ ru”, nghệ nhân Bùi Tiến Giác.
    Kỳ 2: Truyền đời nghề chơi

    Gọi việc đua diều là “nghề”, nghe hơi quá. Nhất là khi ở trong thời đại, vì đồng tiền mà người ta phải bỏ hết những thú vui cá nhân để toàn tâm làm việc. Nhưng mà, ở những ngôi làng ấy của một huyện thuần nông, thú vui thì vẫn là một nghề – nghề chơi hẳn hoi.

    Thú chơi lâu đời
    Tôi có nhiều người bạn ở Kinh Môn – Hải Dương, thấy tính cách họ chịu thương chịu khó làm lụng lắm. Nhưng, cứ vào ngày nghỉ là họ phải nghĩ ra một cái trò gì đó tiêu khiển cho đỡ buồn.


    Nhiều ngôi làng ở Kinh Môn coi thú chơi diều như một nghề.

    Thoạt đầu, tôi chỉ nghĩ đó là thú vui cá nhân, không có động chạm gì đến cách sống mang tính vùng miền. Dần dà, thấy nhiều người bạn quê ở vùng này đều có tính cách khá giống nhau. Cứ cuối tuần, họ tụ tập rủ nhau ra ngoại thành, đến những bãi bồi ven sông để đua diều.

    Với tôi lúc đầu, đấy chỉ là một trò chơi con trẻ. Tuổi thơ ai cũng thích thú chơi này. Nhưng lớn lên, mỗi người mỗi công mỗi việc, bận bịu lo toan thì cái thú ấy mất đi. Nhưng lạ là, dù không có thời gian chơi nhưng lại cứ nghĩ nó là thứ dành cho con trẻ. Không phải cho người nhớn.

    Thế rồi, nhiều bạn người Kinh Môn lập hội sáo diều ở Hà Nội. Hội có đến mấy chục người đủ mọi lứa tuổi. Có những cụ già, người gốc Kinh Môn nhưng sống ở Hà Nội, nhớ đến thú chơi này thì gia nhập. Dù không đủ sức khỏe để đua với bọn trẻ, nhưng cũng nhiệt tình đến bờ đê sông Hồng ngẩng mặt nhìn diều.

    Thì ra, sau nhiều những tỉ mẩn câu chuyện mới vỡ lẽ ở vùng Kinh Môn, thú chơi diều được truyền từ đời này sang đời khác thành một “nghề chơi”. Bởi thế, khi những cô cậu trong vùng xa quê lập nghiệp, vào những ngày gió đẹp thường hay nhớ nghề chơi. Và, khi chứng kiến niềm đam mê của họ mới khiến người ta phải thán phục cái cách chơi kỳ công, và rất tốn thời gian này.


    Chơi diều cũng phải có kỹ thuật và rất cầu kỳ.

    Những ngày này về Kinh Môn, đi sâu vào các làng xã mới thấy hết những vi vu sáo diều. Buổi trưa, bên triền đê sông Kinh Môn tách ra từ dòng Kinh Thầy nô nức những trai trẻ lẫn các cụ ngồi canh diều. Nghệ nhân diều Phạm Hữu Đản, câu lạc bộ diều Kinh Môn nói rằng, thú chơi này là nghệ thuật.

    Từ nhỏ, ông Đản đã say mê làm diều. Ông bảo rằng, sự say mê ấy được truyền từ người cha, người ông. Cho nên cứ lúc rảnh rang, cậu bé Đản lại được tiền bối dạy cách đo đạc, tính toán cách làm ra diều có hình dáng đẹp, bay cao để tiếng sáo vang xa.

    Trong thú chơi diều sáo vùng Bắc Bộ, ông Đản là người có tiếng. Tiếng thứ nhất làm người ta biết đến ông là niềm đam mê; tiếng thứ hai là người chơi có nghề, có tầm. Ông Đản thủ thỉ rằng, nếu như niềm đam mê chơi diều sáo của mình được truyền từ cha ông, thì con cháu ông cũng đam mê thú chơi này nhờ ông truyền dạy.

    “Con mắt” nghề chơi
    Nghệ nhân Phạm Hữu Đản khẳng định, chế tác diều không phải là công việc đơn giản. Một chiếc diều đẹp, bền có khả năng cõng sáo bay cao, chao đảo trong gió xoáy mà không rơi gẫy là rất khó. Để làm được chiếc diều như vậy, phải có nghề, có “con mắt”.


    Với người Kinh Môn, mỗi chiếc, mỗi bộ sáo là một tác phẩm nghệ thuật.

    Theo ông Đản, chế tạo hay thả diều phải có kỹ thuật tinh xảo. Diều sáo Kinh Môn gồm 2 phần chính: diều và sáo đều được làm từ tre. Tre làm diều phải chọn rất kỹ, rồi chặt, chẻ, vót xơ tròn, nhẵn. Khung diều được chọn từ tre đực già, phơi khô, ngâm trong nước vôi nhiều ngày mới vớt ra để tránh mối mọt.

    Nghệ nhân khi tạo khung diều cần đo đạc lấy tâm cho diều cân bằng. Diều truyền thống đều theo quy ước ở giữa to, hai đầu thuôn nhỏ dần và uốn thành hình cánh cung. Áo diều làm bằng giấy dó, quét bằng nhựa quả cậy màu cánh gián. Loại giấy được quết nhựa cậy không bao giờ thấm nước, cả khi trời mưa to vẫn giúp diều đứng vững.

    Kinh nghiệm của ông Đản và các nghệ nhân diều sáo vùng Kinh Môn đều cho rằng, ống sáo diều hay nhất vẫn là từ những cây tre già. “Tre già sẽ giúp sáo khi gặp nắng mưa không bị nứt nẻ và tiếng sáo mới mới vang. Ống sáo được chia làm hai phần, vách ngăn ở giữa bằng gỗ. Hai phần càng đều nhau thì tiếng kêu của sáo càng thanh thót. Mắt sáo được đẽo bằng các loại gỗ nhẹ như: sầm, mực, gạo, vàng tâm, mít”, ông Nguyễn Hồng Tứ, nghệ nhân chế tác sáo xã An Sinh cho biết.

    Những người chơi diều sáo ở Kinh Môn đều có quy tắc sáo lẻ 3, 5, 7 hoặc 9 chiếc, nặng tối đa 2kg. Vì mỗi nơi có sự kết hợp sáo khác nhau nên âm sắc sáo diều cũng khác nhau. Sáo có âm thăng, âm giáng, sáo đực, sáo cái, sáo con, sáo cháu nhưng quy tắc chung để thanh âm tròn vành là miệng sáo phải cân.

    Nghệ nhân Tứ cho biết, người có kinh nghiệm nghe tiếng sáo có thể biết được đó là diều của ai. “Làm được một bộ sáo hay hoàn toàn không đơn giản. Có những người cả đời chơi diều, làm diều nhưng cũng không có nổi bộ sáo tốt. Có lẽ vì thế, người chơi diều rất quý những bộ sáo lên bổng, xuống trầm”, nghệ nhân Tứ chia sẻ.

    Duy trì nghề chơi
    Ở Kinh Môn, thú chơi diều sáo sở dĩ được coi là nghề chơi, và duy trì mang tính truyền đời thành công bởi nhiều lý dó. Theo các nghệ nhân nơi đây, nhiều làng ở Kinh Môn gắn với những kỹ thuật làm diều sáo độc đáo: Khoét mắt sáo ở làng Nghĩa Vũ (An Sinh); đâm diều ở làng Huề Trì (An Phụ); làm dây diều ở làng An Thuỷ (Hiệp An); thiết kế diều ở Châu Xá, Thăng Long.


    Một bộ sáo đẹp bằng tre được quét sơn màu đồng.

    Những người thợ chuyên làm dây diều ở làng An Thủy cho hay, thời gian cuối mùa xuân đầu mùa hè là lúc phải tìm những cây tre bánh tẻ óng mượt chẻ thành những sợi nan theo kích cỡ của diều. Sợi nan được ngâm nước muối, vôi rồi đem luộc chín, vớt ra để khô rồi lấy mo nang tuốt cho nhẵn thì sợi sẽ mềm, dẻo và rất bền.

    Theo các nghệ nhân địa phương, bởi từ xa xưa chơi diều sáo đã thành một nghề, nên những làng giữ được nghề truyền thống cũng không sợ nguy cơ mai một. Nhất là khi phong trào chơi diều sáo đã ở mức rộng khắp thì nghề càng phát triển. Các nghệ nhân có thêm việc làm, thêm thu nhập và ngày càng phát triển các nguyên liệu liên quan đến diều sáo một cách chất lượng hơn.

    Sau khi đã có diều, có sáo, có dây nan, người chơi diều đều phải đem diều ra thử để chỉnh dây lèo. “Dù chỉ là thú chơi nhưng cũng phải chịu khó thì mới thành công được. Người đua diều và người đam diều phải hiểu ý nhau, khi diều lên chừng cao 50m là lúc đã ổn định. Nhưng người chơi phải theo dõi xem trời có đổi gió hay không để điều chỉnh dây”, ông Đản tiết lộ.

    Để bảo tồn và phát triển nghệ thuật diều sáo, từ trước năm 2000 Trung tâm Văn hoá – Thông tin huyện Kinh Môn cùng một số nghệ nhân đã thành lập CLB diều truyền thống với 32 thành viên để cùng nhau phổ biến, nghiên cứu, phát triển các loại diều sáo. Chúng tôi cũng đã tham gia nhiều lễ hội diều truyền thống toàn quốc như “cánh bay Thăng Long”, “cánh diều hòa bình” , “cánh bay Việt Nam”, nghệ nhân Phạm Hữu Đản.
    Kỳ 3: Tiếng đàn trong gió

    Cầm Phong Thiên, tên một câu lạc bộ diều sáo nổi tiếng ở Nam Định. Dù đạt nhiều giải thưởng ở các cuộc thi diều trong nước và quốc tế, nhưng với những người có thú vui “vít gió trời” nơi đây, cánh diều và tiếng sáo chỉ thực sự được hòa quyện khi bay trên bầu trời quê hương.

    Nguyễn Quyết Thắng có lẽ là nghệ nhân diều sáo trẻ nhất, nhưng cũng nổi tiếng nhất của câu lạc bộ Cầm Phong Thiên, giải thích về cái tên của hội: “Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng người Đức là ông Uli Wahl đã nói rằng, tiếng sáo diều tựa như tiếng đàn phong cầm trong các nhà thờ.

    Diều sáo có thứ âm thanh mang tính tự nhiên khiến người nghe có thể nghỉ ngơi, thư giãn tinh thần, có thể dùng làm phương pháp trị liệu trong y học. Diều sáo của Việt Nam thực sự là một di sản văn hóa quý giá không nước nào có được”.


    Một số thành viên trong hội diều sáo Cầm Phong Thiên.

    Từ lời nhận xét ấy, những người chơi diều sáo ở Nam Định đã chọn Cầm Phong Thiên là cái tên chính thức của hội. Thành viên của câu lạc bộ đến từ khắp các nơi, từ các làng quê có truyền thống chơi diều sáo cho đến những bạn trẻ có thú vui tìm hiểu về lịch sử, văn hóa.

    Bởi thế, diều sáo Nam Định không chỉ coi trọng nghệ thuật diều bay và sáo hòa âm mà còn chú ý đến việc quảng bá hình ảnh văn hóa qua áo diều bằng việc in lên đó những di tích lịch sử – văn hóa nổi tiếng.

    Tháp Phổ Minh “lên trời”
    Về Nam Định, người ta dễ thấy những cánh diều lớn bay trên các cánh đồng và trên những con sông lớn như sông Hồng, sông Ninh Cơ… với hình ảnh tháp chùa Phổ Minh. “Tháp chùa Phổ Minh nặng tới 700 tấn, là một công trình cổ xưa rất nổi tiếng. Nhóm những người chơi diều sáo đã quyết định in hình tháp trên nhiều chiếc diều khác nhau để quảng bá hình ảnh quê hương”, nghệ nhân Nguyễn Quyết Thắng cho biết.

    Chiếc diều đầu tiên mang hình tháp Phổ Minh được Thắng và nhóm lên kế hoạch rất tỉ mỉ. Đầu tiên là phải vẽ tháp Phổ Minh và lược bỏ hết các chi tiết không cần thiết để khi bọc diều, hình ảnh di tích không bị méo mó. Tiếp theo, tự tay Thắng đã đo đạc, tìm nguyên liệu làm một khung diều kích cỡ gần 7m.


    Tranh Đông Hồ cũng được đưa vào áo diều.

    “Sau khoảng gần 1 tháng, chiếc diều lớn mới hoàn thành và đem thả thử nghiệm. Nghệ nhân các làng thấy việc quảng bá hình ảnh văn hóa địa phương lên áo diều là một cách làm có ý nghĩa nên đã làm theo. Hiện tại, tất cả các di tích lịch sử văn hóa, các thắng cảnh danh lam đã được những người chơi diều ở Nam Định hoàn thành”, anh Thắng khẳng định.

    Có lẽ thú chơi tao nhã như thả diều không đơn thuần chỉ để giải trí. Khách phương xa đến Nam Định, khi nhìn lên bầu trời ngày gió mát không chỉ thấy tháp Phổ Minh bay lên, mà còn thấy hình ảnh những dòng sông, những chùa chiền, nhà thờ dìu dặt cùng tiếng sáo trên lơ lửng không trung.

    Nghệ thuật chế sáo phong cầm
    Ở Nam Định, sáo diều là một đặc trưng trong thú vui chơi diều sáo ở nước ta. Những người am hiểu tiếng sáo thường hay học hỏi cách làm sáo diều của người Nam Định. Cũng âm thanh ấy, nhưng hình như khi sức gió thay đổi thì thanh âm cũng thay đổi theo.

    Bởi vậy, tiếng sáo diều Nam Định được ví như tiếng phong cầm. Để làm được loại sáo có âm thanh dìu dặt, nhẹ nhàng, nghệ nhân chế tác sáo phải có bí quyết riêng.

    Ông Trần Tiến Thạo, nghệ nhân diều sáo thuộc hội sáo Quất Lâm (Giao Thủy) chỉ tay vào bộ dụng cụ xếp đầy một góc nhà và nói: “Trước các cụ làm sáo chỉ cần có cái đục và con dao nhọn, nhưng ngày nay làm sáo cầu kỳ hơn”.

    Ông Thạo cho rằng, để làm được một bộ sáo phải có các vật liệu như cây mai, vầu, giang nhưng thường dùng hơn là cây dùng già. Nếu may mắn kiếm được đoạn ống tre mà kiến làm tổ tạo độ sần sùi thì sáo sẽ cứng cáp, không bị vỡ.


    Người chơi diều sáo ở Nam Định rất chú trọng âm thanh của sáo.

    Công đọan làm miệng sáo mới đáng quan tâm. Nghệ nhân vùng Nam Định thường chọn các cây gỗ có dạng xoắn thớ như mít cổ thụ để đảm bảo độ vừa dai và rắn. Đồng thời, gỗ mít rất nhẹ nên thích hợp làm miệng sáo diều. Có những người cầu kỳ thì làm miệng sáo bằng sừng trâu.

    Ông Thạo bảo rằng, dù các loại sáo nhìn giống nhau nhưng mỗi bộ lại có một âm thanh riêng biệt. Cũng giống như chim, dù chúng cùng một tên gọi nhưng lại có tiếng hót khác nhau. Âm thanh của sáo diều phụ thuộc vào rất nhiều thứ. Nhưng có quy tắc chung của âm thanh là làm sao phải êm ả, tròn vành rõ tiếng.

    “Thông thường mỗi bộ sáo chỉ cần có 3 chiếc là đủ các bộ âm chính, còn các sáo khác như dòng âm để hòa đồng reo theo. Nhưng người Nam Định thì đã chơi thì phải từ 5 chiếc, 7 chiếc hay 9 chiếc. Thậm chí là 13 chiếc thì lúc lên gió, tiếng sáo chẳng khác nào tiếng phong cầm với dàn đồng ca trên không trung”, ông Thạo bật mí.

    Con số 13 cây sáo được xếp theo thứ tự âm thanh từ to đến nhỏ gồm: ầm, ì, bi, bu, bô, xô, do, de, dí, dị, dì, di. Nếu một bộ xếp các thứ tự âm thanh vừa nêu thì được gọi là sáo đàn, tức là mẹ gọi con thưa, tuần tự kế tiếp. Còn bộ nào bỏ khuyết đi một thì gọi là sáo cầm còi: Bà gọi cháu thưa, chắt vỗ tay.

    Gửi bình yên trên mỗi nóc nhà
    Đêm tháng 5, ở những làng quê Nam Định hình như không bao giờ ngớt đi tiếng sáo. Dìu dặt, văng vẳng lúc xa lúc gần, có những lúc lòng người chống chếnh với ánh trăng với bóng diều như bóng hạc ăn đêm.

    Vẻ đẹp thuần phác xưa cũ ấy, bây giờ hiếm nơi nào giữ được. Như tâm sự của nghệ nhân trẻ Nguyễn Quyết Thắng, là câu lạc bộ diều sáo phải quyết giữ hình ảnh đẹp, gửi yên bình trên mỗi nóc nhà bằng việc thức đêm canh diều.


    Vào những ngày đẹp trời, những người trong hội chơi lại tụ tập chơi diều.

    “Mỗi đêm, khi thả diều, chúng tôi vẫn thường cử người thay nhau canh diều. Tiếng sáo diều ban đêm là thứ âm thanh dễ chịu nhất, nó giúp người ta thoải mái, khỏe mạnh hơn. Và, đặc biệt đó là thứ âm thanh của văn hóa, của tuổi thơ mỗi người. Chúng tôi luôn chú trọng đến ký ức, vì chơi diều cũng chính là thú vui của tuổi thơ”, anh Thắng cho hay.

    Còn nghệ nhân Trần Tiến Thạo lại khẳng định, tiếng sáo diều có khả năng chữa bệnh cho con người. Ông bảo rằng, năm 1773 nhà bác học Lê Quý Đôn có viết “ngày nay người ta thả diều giấy lên cao cho trẻ con ngửa mặt lên trông để cho nhiệt hỏa từ trong người trẻ tiết ra hơi thở. Xem đó ta đủ thấy cổ nhân làm đồ chơi nhỏ mọn như thế cũng có ý nghĩa lắm”.

    Chẳng biết những dẫn dắt mang lời kiến văn ấy có thật hay không. Nhưng, thú vui chơi diều sáo thì được nhiều người theo đuổi. Có người còn coi đó là một nghề, ngoài hưởng niềm vui thú giản đơn thì còn có thể kiếm được ra tiền.

    Hiện nay, ở Nam Định có hàng chục ngôi làng còn giữ được nghề làm diều sáo thủ công. Tuy nghề này chẳng đem lại cho họ tiền trăm bạc vạn, nhưng ít nhất cũng giúp họ gửi những vọng bay cao hơn, xa hơn.

    “Để có được tiếng sáo hay thì tiếng sáo nhất, nhì, ba phải “ăn” nhau, như “đập” vào nhau và pha trộn nhuần nhuyễn làm cho người nghe không còn phân biệt được đó là ba cây sáo. Tiếng sáo trộn ấy khiến người nghe thấy chỉ một tiếng vọng. Khi gió thổi mạnh thì tiếng vọng càng vang xa, càng dìu dặt” (Nghệ nhân Trần Tiến Thạo)
    Tác giả: Trần Hòa - KhoaHocDoiSong.Vn

  2. Thành viên đã gửi lời Cảm Ơn tới Diều Thái Bình về bài viết này:

    Hoàng Phú (02-01-2018)

 

 

Facebook comment

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •